Trang Điểm Mặt

Cho khuôn mặt luôn rạng rỡ !!!

Month: January 2017

PHÁT TRIểN QUốC GIA BằNG “CHỉ Số” NHÂn TÀI

PHÁT TRIểN QUốC GIA BằNG “CHỉ Số” NHÂn TÀI
Trong buổi diễn thuyết tại Đại học Harvard năm 1943, Winston Churchill nói: “Các đế quốc trong tương lai sẽ là những đế quốc của trí tuệ”. Ông nói thêm, những cuộc chiến trong tương lai sẽ là cuộc chiến vì nhân tài…
Giáo sư Niall Ferguson là một trong những sử gia trẻ giỏi nhất thuộc thế hệ ông, với khả năng có thể kết hợp và biện giải mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị học bằng loại ngôn ngữ diễn đạt dễ hiểu đến mức sinh viên không cần làm bài tập vẫn theo kịp bài giảng. Ferguson là giáo sư mà bất cứ đại học lừng danh nào đều muốn mời ông. Cách đây hơn 10 năm, Đại học New York (NYU) mời Ferguson từ Oxford với mức lương hàng chục ngàn đôla; đặt ông vào vị trí cao trong khoa sử, cung cấp ngôi nhà sang trọng tại Greenwich Village và trả chi phí vé máy bay vượt Đại Tây Dương để Ferguson có thể thường xuyên về Anh thăm vợ con. Sau đó, Ferguson qua Harvard và từ cuối năm 2015 ông về Stanford. Sự ra đi của Ferguson được giới học thuật miêu tả là một “cú sốc” cho Harvard! Giáo sư sử Alison Frank Johnson viết rằng Ferguson là người “không thể thay thế”.
Câu chuyện Niall Ferguson là một trong những ví dụ cho thấy nhân tài cần được tôn trọng như thế nào. Con người luôn là yếu tố cốt lõi của phát triển. Không nguồn vốn nào quan trọng bằng nguồn vốn nhân lực. Đây không chỉ là cuộc chiến giữa những công ty (đang cạnh tranh về nguồn nhân lực) mà còn là cuộc chiến giữa các quốc gia (đang lo lắng về “cân bằng nhân tài” cũng như “cân bằng quyền lực”). Mức độ phát triển quốc gia giờ đây không chỉ tính bằng GDP hay tỷ lệ FDI mà còn là “kỹ năng” thu hút nhân tài. Nước nào càng lôi kéo được nhiều nhân tài thì càng phát triển thành công.
Tháng 10-2016, Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết, Mỹ, Canada, Úc và Anh hiện là bốn quốc gia hàng đầu thu hút nguồn nhân tài nhập cư. Dù các nước không nói tiếng Anh nỗ lực trải thảm mời chuyên gia trình độ cao nước ngoài nhưng có gần 75% lực lượng tay nghề trình độ cao tại các nước OECD (Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế) vào năm 2010 đều dồn vào bốn quốc gia nói trên, trong đó chỉ riêng Mỹ đã chiếm gần 40%. Gần 70% kỹ sư Thung lũng Silicon đều là dân nước ngoài. Trong khoảng 30 năm cuối của thế kỷ 20, dân nhập cư giành 31% giải Nobel mà quá bán trong số đó đều làm việc cho các viện nghiên cứu Hoa Kỳ. Những điều vừa nói cho thấy sự khốc liệt của cuộc chiến giành giật nhân tài và trở thành một thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển vốn muốn níu chân nhân tài nước mình trước cơn bão thất thoát chất xám.

Không thể không lo lắng cho tương lai đất nước khi Việt Nam ngày càng thất bại trong cuộc chiến nhân tài. 12/13 quán quân chương trình “Đường lên đỉnh Olympia” đã ở lại nước ngoài làm việc thay vì trở về nước. Khó có thể trách các bạn trẻ có cơ hội du học đã không quay về phục vụ. Môi trường làm việc lạc hậu và chế độ đãi ngộ thấp kém là vài trong số lý do khiến du học sinh chọn con đường xa quê. Trong khi đó, tính đến giữa năm 2016, có đến 225.000 cử nhân và thạc sĩ thất nghiệp! Hệ thống đại học bùng nổ (412 trường, với khoảng 2,2 triệu sinh viên) đã không thật sự đóng góp cho việc xây dựng nguồn nhân lực nước nhà.
Phương pháp giáo dục đại học không chỉ lạc hậu mà còn nặng tính giáo điều. Đại học vẫn chưa là môi trường để bày tỏ tự do tư duy sáng tạo. Hầu hết đại học đều không thoát ra khỏi mô hình đào tạo “học chữ”. Đại học ngày nay không chỉ thuần túy cung cấp kiến thức. Nó phải là môi trường nghiên cứu và tạo cảm hứng nghiên cứu sáng tạo. Nó phải là nơi cống hiến những sản phẩm khoa học thực tế với đóng góp của thầy lẫn trò. Nó phải là nơi kích thích được nguồn năng lượng cho tri thức trẻ. Nó phải là nơi định hình cho tương lai đất nước chứ không phải là nơi những “giá trị” cũ mòn được “bảo tồn”.
Thiết hụt nguồn con người, làm thế nào có thể xây dựng quê hương? Nhân lực và nhân tài là yếu tố hàng đầu để phát triển. Đã quá muộn để thiết kế một chiến lược xây dựng nguồn nhân lực. Sự thịnh vượng một quốc gia không chỉ nhờ sản xuất và giao thương. Nó còn phải đặt trên nền tảng xây dựng con người, và xây dựng con người phải đặt trên nền tảng một chính sách giáo dục đúng đắn trong đó phải nhấn mạnh đến sự khai phóng, tự do tư duy và tự do sáng tạo. Hãy chọn thế hệ trẻ để đặt tương lai vào họ chứ không phải để những bộ não cằn cỗi cai quản họ. Hãy để tương lai đất nước đi lên như những cỗ máy cấp tiến hiện đại, chứ không phải nhẹ rơi như những tờ bướm mà các bạn sinh viên thất nghiệp đứng phát ở các ngã đường vô vọng.

Về TRƯƠNG VĨNH KÝ

Về TRƯƠNG VĨNH KÝ
Trong “Trương Vĩnh Ký, 1837-1898” (NXB Tân Việt, Sài Gòn 1958), tác giả Khổng Xuân Thu viết:
“Suốt cuộc đời của Trương vĩnh Ký, ta thường nghe tiên-sinh nhắc đến câu cách-ngôn La-tinh sau đây: Sic vos non vobis (Ở với họ mà không theo họ). Trong bức thư thắm-thiết của tiên-sinh gửi cho một người bạn văn-hóa – bác-sĩ Chavanne – đề ngày tháng 10-1887, Trương-công vẫn còn nhắc lại với tất cả ý-niệm chân thành của mình đối với thời cuộc. Theo dõi cuộc đời của tiên-sinh, nhìn vào những tác-phẩm của tiên-sinh (đủ các loại: khoa-học, ngôn-ngữ, sử-học, thi ca…) chúng ta khó tìm được những khía cạnh tâm tình của tiên-sinh. Nhất là từ khi bước chân vào đường lối chính-trị, kẻ khen, người chê, kẻ trọng, người khinh, tiên-sinh cứ mang thứ mặc-cảm tội-lỗi (complexe de culpabilité) đau-đáu trong lòng mãi. Tiên-sinh giành suốt đoạn đời còn lại để sáng-tác, để miệt-mài nghiên-cứu. 118 tác-phẩm đã được ấn-hành và còn bao nhiêu tác-phẩm biên soạn dở-dang! Và trước khi lìa đời, tiên-sinh vẫn sống với cảnh nghèo-nàn, cơ-cực, bệnh-hoạn mà tâm-tư vẫn khắc-khoải lo âu về công-luận phẩm-bình mai sau”…
Quả thật cụ Trương Vĩnh Ký từng là đề tài gây tranh cãi. Trong “Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ”, có ghi lại một số bài viết chỉ trích cụ Trương tại miền Bắc thập niên 1960 và miền Nam thập niên 1970. Tuy nhiên, dẫu đặt cụ Trương ở lăng kính nào cũng khó có thể phủ nhận ông là một nhà văn hóa khổng lồ. Trí tuệ phi thường và kiến thức dân tộc học lẫn hiểu biết về văn hóa phương Tây của ông khiến người Pháp cũng phải nghiêng mình. Một người từng kết bạn với văn hào Victor Hugo, Émile Littré (triết gia, ngôn ngữ học), Ernest Renan (triết gia, ngôn ngữ học, sử học)…, như Trương Vĩnh Ký, thì sự uyên bác không phải ở mức bình thường. Nhà địa lý học Richard Cortambert đã thuật lại lần gặp Trương Vĩnh Ký:
“… Petrus trở lại đề tài thần học, ông đưa cho tôi xem bản thảo viết tay dày cả ngàn trang, được viết với nét bút cứng cỏi và thành thạo, ông nói với tôi với một vẻ khiêm cung tuyệt vời của một tác giả trẻ mới vô nghề (lúc này Trương Vĩnh Ký mới 26 tuổi – chú thích của MK) – một thứ khiêm tốn chừng mực điểm nhẹ tự trọng – rằng trong việc chuẩn bị chuyến du hành đến một quốc gia có học thuật cao và Công giáo như nước Pháp, ông đã dịch ra tiếng Latin một tác phẩm đã được khởi đầu bằng tiếng Việt. Ông nói thêm là cuốn sách của ông chuyên đề thiên chất của Chúa Giê-su” (sđd, trang 301).
Richard Cortambert kể thêm:
“Được một vị Bộ trưởng của chúng ta triệu mời để hỏi về kiến thức, người An Nam này đã đơn sơ trả lời rằng học thức của ông hạn chế trong khoảng mười ngôn ngữ…
– Ngài đã học mười thứ tiếng! Ngài biết đến mười ngôn ngữ!
Petrus đáp lời:
– Vâng, nhưng tôi không nói được hết.

– Như vậy ông có thể đàm thoại bằng tiếng Latin dễ dàng như tiếng của nước ông chứ?
– Vâng, thực tế cũng dễ dàng như vậy.
Vị bộ trưởng vừa nói tiếp vừa ấn nút chuông:
– Tốt quá! Tôi sẽ giới thiệu ông tức thì với một chuyên gia Latin hạng nhất…
Một khoảng ngắn sau đó, một người đàn ông trạc tuổi năm mươi, dáng người lạnh lùng, mang cà vạt trắng và băng vải đỏ, tiến vào…
Bộ trưởng nói với ông ta:
– Thưa ngài, ngài là nhà Latin học hiếm quý của nước Pháp… Ngài biện luận thông thái với ngôn ngữ của Cicéron còn hơn cả rất nhiều người Pháp viết tiếng mẹ đẻ; tôi xin giới thiệu với ngài một thông ngôn trẻ tuổi người An Nam…
Vị giáo sư thông thái khai mào với một câu của tác giả Verrines mà tôi (tức Richard Cortambert) không thể phủ nhận là thích hợp. Câu văn hòa hợp nhẹ nhàng tròn trịa; các từ phối hợp tuyệt vời và êm ru lỗ tai. Petrus đáp lại với một câu văn rõ ràng, sáng sủa… Nhà thông thái người Pháp tiếp tục đi sâu công trình cùng ý tưởng ông khai triển ra nhưng hơi ngượng ngùng; ông ta thình lình thay đổi đề tài và bị vấp vào cuối câu; ông tìm không ra chữ; rõ là trong đầu ông gặp khó khăn khi phiên dịch tiếng Pháp ra Latin; ông ta ngập ngừng lâu trước khi xong đoạn văn và có vẻ nói quanh co để tránh bị chết đắm.
Viên thông ngôn An Nam thì ngược lại, lời nói càng trôi chảy hơn bao giờ; làm như từng phút từng phút, ông càng được thêm sức mạnh… Câu nói của ông trở nên chính xác, rõ ràng, trong khi đối thủ lạc lõng trong một cấu trúc câu văn mơ hồ và không chính xác. Ngay cả có một lúc, vì tìm không ra chữ, chuyên gia ngôn ngữ Tây phương kia trả lời thật thà bằng tiếng Pháp khi được Petrus hỏi bằng tiếng Latin… (sđd, trang 305)

Khó có thể biết câu chuyện trên là thật hay chỉ là giai thoại nhưng tài năng Trương Vĩnh Ký thì khó có thể bàn cãi. Ở thời mà trí thức Tây học lẫn Nho học còn nhan nhản, chữ tín đối với giới học thuật nặng ngàn cân và việc sử dụng ngôn ngữ khi đánh giá về người khác cũng được cân nhắc từng lời, thế mà, cụ Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố (cũng là một học giả lừng lẫy) đã viết như sau (trong lời tựa cho quyển “Trương Vĩnh Ký – Biên khảo” của tác giả Lê Thanh; NXB Tân Dân, Hà Nội, 1943):
“… Nước ta có đức Trần Hưng Đạo là bậc lập đức, vua Lê Lợi và vua Gia Long là bậc lập công, ông Phan Phù Tiên đời Trần và một vài ông sứ thần nữa là bậc lập ngôn. Vậy thì hạng người làm sách để dạy đời là một hạng trong ba hạng người bất hủ ấy. Ông Trương Vĩnh Ký có thể liệt vào hạng người đó, vì không những Hán học uyên thâm, Pháp học uyên bác, ông còn lại tinh thông về các thứ chữ ở Viễn Đông như chữ Cao Miên, chữ Xiêm, chữ Lào, chữ Ấn Độ; thực là một nhà bác học uẩn súc, nước ta chưa từng có bao giờ… Tôi xem đoạn nào ông Lê Thanh soạn cũng tinh tế lắm… nên tôi dám chắc rằng những người yêu sử nước nhà và yêu văn hóa nước nhà đọc quyển này sẽ được như ý. Cả những bạn thanh niên nữa vì sách này là sách tiểu sử chép những sự nghiệp lừng lẫy của một nhà “lập ngôn bất hủ” của nước ta, một tay cự phách trong văn học đã nổi tiếng là một nhà sư phạm biết treo một bức gương sáng cho ta soi chung” (sđd, trang 361)

Trở lên là vài nhận xét về một người mà đến nay vẫn còn chịu nhiều phán xét, dù “vai trò chính trị” của ông, suy cho cùng, cũng chỉ là một ông thông ngôn. Nếu chỉ vì ông là người Công giáo hay vì mối quan hệ thuần túy tình cảm của ông với một số người Pháp (chủ yếu là giới văn hóa) mà “từ bỏ” toàn bộ sự nghiệp học thuật của ông thì thật là một điều đáng tiếc, không chỉ với cá nhân Trương Vĩnh Ký mà còn cả với thế hệ ngày nay, những người đang cần được hiểu về những danh nhân dân tộc đích thực lẫn cần được kích thích một tinh thần khuyến học để tự mình có thể nhận biết đúng-sai, trong cái thời “lộng giả thành chân” này.

– Một số công trình của cụ Trương (chụp từ “Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ”)
– Một đoạn trong bài “Un Grand Patriot: Petrus-Ky” của Pierre Viellard đăng hồi năm 1947 (sđd, trang 520) – có thể là một trong những lý do khiến quyển sách trở nên “nhạy cảm”
– Link tải một trong những tài liệu được xem là “kinh điển” viết về cụ Trương in tại Sài Gòn năm 1958 (http://tusachtiengviet.com/a262/truong-vinh-ky)